72

09:35

place Tuy An, Phu Yen

Thái độ sống đúng đắn cuộc đời này là gì?

Câu hỏi: Thái độ sống đúng đắn ở cuộc đời này là gì?

Trước hết, làm rõ câu hỏi

Câu hỏi "thái độ sống đúng đắn là gì" nhìn qua tưởng đồng dạng với câu hỏi "ý nghĩa cuộc đời là gì", nhưng thật ra khác ở một điểm quan trọng. Ý nghĩa là điều ta tìm kiếm hoặc kiến tạo, và có thể tranh cãi bất tận. Thái độ là cách ta đứng trước cuộc đời, một tư thế nội tâm, một khuynh hướng đáp lại. Epictetus đã nhìn ra điểm then chốt: ta không chọn được sinh ra ở đâu, mắc bệnh gì, mất ai nhưng phán đoán và tư thế của ta trước những điều ấy thì nằm trong tay ta. Viktor Frankl, trong trại tập trung, xác nhận điều đó bằng chính đời mình: người ta có thể bị tước đoạt mọi thứ, trừ quyền tự do cuối cùng chọn thái độ trước hoàn cảnh. Vì thế, câu hỏi về thái độ là câu hỏi có thể trả lời được, bởi nó hỏi về điều duy nhất hoàn toàn thuộc về ta.

Kế đến, "đúng đắn" theo nghĩa nào? Không phải "đúng" như một phép tính đúng, mà "đúng" như một phản ứng thích đáng với hoàn cảnh. Như Aristotle ví với người bắn cung trúng đích: đúng việc, đúng lúc, đúng mức. Muốn xét một thái độ có "trúng" không, ta cần tiêu chí. Tôi đề xuất ba tiêu chí: Một thái độ đúng đắn phải "Chân Thật" không đòi ta tự lừa dối về thực tại. Hai là "Thiện" tốt cho chính ta và không đổ tổn thất lên người khác. Cuối cùng là "Bền" có thể sống được lâu dài, không sụp đổ khi gặp bão. Khó ai bác bỏ ba tiêu chí này, vì chẳng ai bảo vệ một thái độ đòi hỏi ảo tưởng, làm hại người, và không chịu nổi thử thách.

Cuối cùng, câu hỏi ngầm giả định có một thái độ đúng. Điều này cần dè chừng. Hỏi "thái độ đúng là gì" hơi giống hỏi "giai điệu đúng là gì": không có một giai điệu duy nhất, nhưng có những nốt sai. Câu trả lời khả dĩ, do đó, không phải một công thức mà là một "cung" một chùm khuynh hướng, trong đó nhiều cuộc đời tốt đẹp khác nhau có thể vang lên.

Những sự thật mà mọi thái độ phải đối diện

Một thái độ đúng phải "vừa khít" với thực tại, nên phải hỏi: thân phận con người có gì không thể né tránh? Thứ nhất, hữu hạn: ta sẽ chết, và mọi thứ ta yêu đều vô thường. Thứ hai, giới hạn của quyền kiểm soát: phần lớn điều xảy ra với ta không do ta quyết định, và khổ đau là phần không thể loại trừ. Thứ ba, bất định: ta không biết chắc điều gì tối hậu, có Trời hay không, sau cái chết là gì và có lẽ sẽ không bao giờ biết. Thứ tư, liên đới: ta sinh ra trong tay người khác, thành người nhờ người khác không có cái tôi nào tự tồn. Thứ năm, tự do: dù bị điều kiện hóa đến đâu, ta vẫn phải chọn, và không thể trốn trách nhiệm về lựa chọn ấy. Sartre gọi sự trốn tránh này là "ngụy tín". Bất kỳ thái độ nào phủ nhận một trong năm sự thật này đều xây trên cát.

Các truyền thống lớn nói gì và hội tụ ở đâu

Điều đáng kinh ngạc khi khảo sát các truyền thống lớn, Đông và Tây, tôn giáo và thế tục, không phải là chúng khác nhau, mà là chúng đồng thanh đến mức nào ở những điểm cốt yếu, dù xuất phát từ những siêu hình học rất khác.

Trước hữu hạn: phái Khắc Kỷ thực hành memento mori. Montaigne nói triết lý là học cách chết. Heidegger cho rằng chỉ khi đối diện cái chết như khả thể riêng nhất của mình, con người mới sống "đích thực". Phật giáo lấy vô thường làm cửa ngõ của trí tuệ. Tất cả đều thấy một nghịch lý: ý thức về cái chết không làm đời nhạt đi mà làm nó đậm lại, nó xé toạc những bận tâm vụn vặt và trả ta về điều thiết yếu. Trước giới hạn kiểm soát: Epictetus phân đôi thế giới thành điều thuộc ta và không thuộc ta. Lão Tử dạy vô vi, không cưỡng ép dòng chảy. Phật giáo nói tùy duyên. Nho gia gói gọn trong "tận nhân lực, tri thiên mệnh". Bhagavad Gita dạy hành động hết mình mà không bám vào kết quả. Trước bất định: Socrates khởi đi từ việc biết mình không biết. Camus chọn sống tỉnh táo với cái phi lý thay vì nhảy vọt vào một niềm tin an ủi. Trước liên đới: Aristotle đặt tình bạn vào tâm của đời sống tốt. Khổng Tử đặt "nhân" làm gốc. Phật giáo có từ bi. Epicurus, dù thường bị hiểu lầm, xem tình bạn là điều quý nhất mà trí tuệ mang lại. Frankl thấy tình yêu là con đường trực tiếp nhất tới ý nghĩa. Trước tự do: Nietzsche kêu gọi "amor fati" yêu lấy số phận mình. Camus kết luận "phải tưởng tượng Sisyphe hạnh phúc" hạnh phúc không ở đỉnh núi mà ở tư thế của người đẩy đá.

Người Việt có một tổng hợp cô đúc lạ thường nơi Trần Nhân Tông vị vua hai lần đánh tan quân Nguyên rồi lên núi tu:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Ở giữa đời mà vui đạo, tùy duyên mà hành động, đói ăn mệt ngủ, biết rằng báu vật ở ngay trong nhà mình, đối cảnh với tâm không vướng. Ở đây, nhập thế và xuất thế không đối lập: người ấy đánh giặc, trị nước, rồi buông không vì đời vô nghĩa, mà vì đã sống trọn phần mình.

Những căng thẳng cần hòa giải

Sự hội tụ trên không xóa hết những căng thẳng thật. Thứ nhất, chấp nhận hay phấn đấu? Khắc Kỷ và Phật giáo có vẻ nghiêng về chấp nhận. Nietzsche và Nho gia nghiêng về vươn lên. Nhưng đây là căng thẳng giả nếu ta phân định đúng: chấp nhận thuộc về điều đã xảy ra và điều ngoài tầm tay, phấn đấu thuộc về điều còn mở và trong tầm tay. Sai lầm nằm ở việc hoán đổi chúng chấp nhận điều ta có thể đổi (đó là hèn nhát hoặc lười), hoặc chống lại điều không thể đổi (đó là khổ vô ích). "Tận nhân lực, tri thiên mệnh" đặt chúng đúng thứ tự: tận lực trước, tri mệnh sau. Chấp nhận đích thực chỉ có thể đến sau khi đã cố hết sức, đến trước, nó chỉ là cái cớ.

Thứ hai, buông bỏ hay yêu thương? Nếu mọi sự vô thường, sao còn gắn bó? Câu trả lời của Phật giáo tinh tế hơn người ta tưởng: điều cần buông không phải tình thương mà là sự nắm chặt. Ta có thể yêu một người hết lòng mà không đòi họ là của mình hay mãi mãi. Thật ra, chính ý thức về vô thường làm tình yêu sâu hơn: ta trân quý điều sẽ mất. Trịnh Công Sơn nói điều này giản dị:

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì, em biết không?
Để gió cuốn đi.

Tấm lòng không cần đền đáp, không cần được giữ lại, mới là tấm lòng tự do.

Thứ ba, tu thân hay vị tha? Nho gia trả lời rằng đó là một chuỗi liên tục: tu thân rồi mới tề gia, trị quốc. Phật giáo trả lời rằng cái tôi vốn là quan hệ, nên chăm sóc mình đúng cách tất dẫn đến chăm sóc người. Một thái độ chỉ hướng vào mình sẽ nghèo nàn, một thái độ chỉ hướng ra ngoài mà không có gốc nội tâm sẽ kiệt sức hoặc biến thành kiểm soát. Thứ tư, ý nghĩa được ban hay được tạo? Có lẽ cả hai đều sai nếu tách rời. Frankl có hình ảnh đúng: cuộc đời đặt câu hỏi cho ta, và ta trả lời bằng cách sống. Ý nghĩa nảy sinh trong sự đáp lời, không sẵn có như hòn đá, cũng không tùy tiện như cơn hứng.

Những thái độ không qua được kiểm nghiệm

Ba tiêu chí ban đầu giúp loại bỏ những ứng viên phổ biến. Lạc quan ngây thơ ("rồi mọi sự sẽ tốt") thất bại ở tiêu chí chân thật: nó cần phủ nhận cái chết và bi kịch, và sụp đổ ngay lần đầu va vào bất hạnh thật. Hư vô chủ nghĩa ("chẳng gì có nghĩa") tự mâu thuẫn người nói câu ấy vẫn ăn, vẫn muốn được lắng nghe và ăn mòn cả người sống nó lẫn người quanh họ. Oán hận và tâm lý nạn nhân, dù nỗi đau là thật và thất bại vì trao quyền kiểm soát đời mình cho chính kẻ đã làm tổn thương mình, một sự tự nguyện làm nô lệ lần thứ hai. Hưởng lạc tiêu thụ thất bại vì lẫn lộn kích thích với hạnh phúc và không biết làm gì với cái chết. Cầu toàn cứng nhắc thất bại vì đòi ở thực tại điều nó không bao giờ cho. Định mệnh thụ động ("số trời cả") thất bại vì chối bỏ phần tự do và trách nhiệm là của ta. Mọi thái độ sai này đều có chung một cấu trúc: hoặc phủ nhận một sự thật của thân phận, hoặc hoán đổi vùng ta kiểm soát với vùng ta không.

Tổng hợp: một chùm khuynh hướng nương nhau

Từ những phân tích trên, tôi cho rằng thái độ sống đúng đắn không phải một khẩu hiệu mà là một chùm khuynh hướng giữ nhau. Tỉnh thức trước hữu hạn: sống với ý thức rằng đời có hạn và mọi thứ đang trôi không để buồn, mà để tỉnh. Để bớt hoang phí thời gian vào những điều ta sẽ không nhớ, và không hoãn lại điều cốt yếu. Seneca nói không phải ta có ít thời gian, mà ta lãng phí nhiều. Phân định và tận lực: trong mỗi hoàn cảnh, hỏi rõ điều gì thuộc ta, trong phần ấy làm hết sức, ngoài phần ấy buông với thanh thản. Buông không phải bỏ cuộc mà là dừng đúng chỗ. Đặt phẩm hạnh trên kết quả: coi sự chính trực, lòng can đảm, sự công bằng là điều ta thực sự "có", vì đó là thứ duy nhất số phận không lấy được. Tài sản, danh vọng, sức khỏe đều có thể mất, nhưng cách ta ứng xử khi mất chúng là của ta. Yêu thương không nắm chặt: đầu tư sâu vào người và việc, không giữ mình ở khoảng cách an toàn nhưng yêu như người giữ vườn, không như chủ sở hữu.

Trung thực với chính mình: theo nghĩa Socrates đòi hỏi khi nói "hãy biết mình", và theo nghĩa Sartre cảnh báo khi vạch mặt "ngụy tín" không tự dối về động cơ, nỗi sợ và ước muốn thật của mình, không sống cuộc đời người khác kỳ vọng rồi gọi đó là số phận, dám nhìn thẳng vào thất bại và lỗi lầm của mình mà không tự hủy, cũng không tự bào chữa. Kierkegaard nhìn ra rằng dạng tuyệt vọng phổ biến nhất không ồn ào mà âm thầm: tuyệt vọng vì không dám là chính mình. Sự trung thực này là điều kiện của mọi khuynh hướng khác, bởi thiếu nó, chấp nhận chỉ là cam chịu đội lốt, buông bỏ chỉ là trốn tránh đội lốt, và yêu thương chỉ là nhu cầu kiểm soát đội lốt. Nó cũng là khuynh hướng khó nhất, vì kẻ lừa ta khéo nhất luôn là chính ta.

Khiêm nhường trước điều chưa biết: giữ những xác tín của mình bằng bàn tay mở, không bằng nắm tay siết. Đây không phải sự nhu nhược trí tuệ, người khiêm nhường vẫn có lập trường, vẫn hành động mà là ý thức rằng ta đang đứng trước một thực tại lớn hơn khả năng nắm bắt của mình. Nó nằm giữa hai cực đều là hình thức của kiêu ngạo: giáo điều (tưởng mình đã biết hết) và hoài nghi bỉ báng (tưởng không có gì đáng biết). Khiêm nhường mở ra khả năng kinh ngạc "thaumazein" mà Aristotle gọi là khởi nguyên của triết học và kinh ngạc là điều giữ cho cuộc đời không bao giờ trở thành thói quen.

Biết ơn và biết đủ: nhận ra rằng sự có mặt của mình trên đời không phải là điều được nợ. Ta không làm gì để được sinh ra, bầu khí ta thở, ngôn ngữ ta nghĩ, những người đã nuôi ta, tất cả đến trước mọi công lao. Đáp lời đúng đắn trước cái được ban không do công là biết ơn, và biết ơn tự nhiên dẫn đến biết đủ, vì người thấy mình đã nhận nhiều không còn bị cơn đói "thêm nữa" thúc giục. Epicurus nói người nghèo không phải người có ít mà là người luôn muốn thêm. Lão Tử nói "tri túc giả phú" biết đủ là giàu. Nguyễn Bỉnh Khiêm bước ra khỏi "chốn lao xao" không vì chán đời mà vì đã thấy điều gì thật sự đáng. Tô Thùy Yên, trở về sau mười năm tù, viết được câu này:

Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.

Đó là biết ơn không ngây thơ, biết ơn của người đã đi qua đáy khổ đau mà vẫn thấy một bông hoa nở là ân huệ.

Nhận phần trách nhiệm của mình với thế gian: vì ta không tự tồn mà sống nhờ người khác, nên ta mắc nợ và vì ta tự do, nên không ai làm thay ta phần việc của ta. Frankl nói cuộc đời không hỏi ta muốn gì mà hỏi ta sẽ đáp gì. Điều này không đòi ta cứu thế giới đó lại là một dạng kiêu ngạo khác mà đòi ta chăm sóc trọn vẹn mảnh đời trong tầm tay: một nghề được làm cho tử tế, một người được thương yêu đúng cách, một sự thật được nói ra khi im lặng dễ hơn. Bác sĩ Rieux trong Dịch hạch của Camus không có ảo tưởng chiến thắng khi được hỏi lương thiện là gì, ông đáp rằng trong trường hợp của ông, đó là làm việc của mình. Voltaire kết Candide bằng câu: phải vun xới mảnh vườn của mình. Nguyễn Công Trứ nói bằng giọng khác nhưng cùng một trực giác.

Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.

"Danh" ở đây không nhất thiết là tên tuổi, mà là một dấu tay lương thiện để lại trên phần thế giới ta đã chạm vào.

Và cuối cùng, một sự nhẹ nhõm khả năng cười, trước hết là cười chính mình. Không phải sự bông lơn của kẻ chẳng coi gì là quan trọng, mà là sự nhẹ nhõm của người đã coi điều quan trọng đủ nghiêm túc để không còn cần tự coi mình quan trọng. Trang Tử cười. Trần Nhân Tông "đối cảnh vô tâm". Camus mời ta tưởng tượng Sisyphe hạnh phúc và có lẽ là mỉm cười khi quay xuống nhặt đá. Sự nhẹ nhõm này là dấu hiệu cho thấy ta thật sự đã buông điều không thuộc mình, chứ không chỉ nói là buông. Một thái độ sống đúng mà thiếu nó sẽ trở nên nghiêm nghị, cứng và giòn sẽ vỡ khi va vào cái phi lý mà đời không bao giờ thiếu.

Vì sao chúng phải nương nhau

Tôi gọi đây là "chùm khuynh hướng nương nhau" vì không khuynh hướng nào trong đó tự đứng vững được mỗi cái, tách riêng, đều biến dạng thành tật xấu mang tên đức hạnh. Tỉnh thức về hữu hạn mà thiếu yêu thương trở thành sự lạnh lùng của kẻ đứng ngoài đời, lấy vô thường làm cớ để không dấn thân. Yêu thương mà thiếu phân định trở thành lo âu và kiểm soát, muốn nắm giữ điều không thể nắm. Tận lực mà thiếu biết đủ trở thành tham vọng không đáy và kiệt sức. Biết đủ mà thiếu tận lực trở thành lười nhác tự khen mình thanh cao. Trung thực mà thiếu khiêm nhường trở thành tàn nhẫn với người khác và với chính mình. Khổng Tử đã thấy điều này khi nói người thích thẳng thắn mà không học thì thành khắc nghiệt. Trách nhiệm mà thiếu nhẹ nhõm trở thành gánh nặng và tự cho mình quan trọng, nhẹ nhõm mà thiếu trách nhiệm trở thành hoài nghi bỉ báng. Đây chính là điều các nhà Khắc Kỷ, Aristotle và Nho gia đều nhìn ra dưới những tên gọi khác nhau: các đức hạnh làm thành một thể, mỗi đức là trung đạo, và trung đạo ấy được giữ bởi các đức khác. Thái độ đúng, do đó, không phải một nốt mà là một hợp âm và hợp âm chỉ vang khi các nốt cùng vang.

Thái độ là một thực hành, không phải một trạng thái

Cần nói rõ một điều để tránh ảo tưởng: thái độ sống đúng không phải một trạng thái ta đạt được rồi giữ mãi. Aristotle nói đức hạnh có được nhờ tập luyện, như người thợ có tay nghề nhờ làm. Khắc Kỷ có những bài tập hằng ngày. Phật giáo gọi là tu tức là làm đi làm lại. Ta sẽ rơi: sẽ có ngày ta oán hận, ngày ta nắm chặt, ngày ta tự dối. Điều làm nên sự bền vững không phải là không bao giờ chao đảo, mà là có đường về. Người có thái độ đúng không phải người không bao giờ ngã, mà là người biết mình đang ngã và biết phải đứng lên theo hướng nào. Vì thế, câu hỏi thực hành không phải "tôi đã có thái độ đúng chưa" mà là "hôm nay tôi có quay về nó không". Và cũng vì thế, thái độ này không nên bị biến thành một kỹ thuật tự tối ưu hóa thêm một thứ để "đạt được", để "thành công" bởi như vậy ta lại rơi vào chính lối nắm giữ mà nó muốn hóa giải.

Kiểm nghiệm lại ba tiêu chí

Đối chiếu với ba tiêu chí ban đầu. Chân thật: chùm khuynh hướng này không đòi ta phủ nhận sự thật nào của thân phận. Ngược lại, nó được xây từ chính năm sự thật ấy, mỗi khuynh hướng là một lời đáp trước một sự thật. Thiện: nó tốt cho người sống nó, mang lại tự do nội tâm và sự vững vàng không phụ thuộc may rủi và tốt cho người quanh họ, vì nó không đổ tổn thất lên ai, không cần kẻ thù, không cần nạn nhân. Bền: nó không dựa trên điều số phận có thể lấy đi, nó từng được sống trong trại tập trung, trong ngục tù, trên đỉnh danh vọng và dưới đáy thất bại. Còn một điểm mạnh nữa: nó không đòi ta giải quyết trước những câu hỏi tối hậu. Người tin có Trời có thể sống nó như lòng biết ơn với Đấng ban. Người không tin có thể sống nó như lòng biết ơn với sự thật trần trụi rằng mình có mặt. Một thái độ vẫn đúng dù thực tại tối hậu là gì đó chính là điều ta có thể tin cậy khi những điều tối hậu vẫn còn mờ.

Cũng phải nói điều nó không hứa. Nó không hứa hạnh phúc theo nghĩa êm ả, nó không xóa khổ đau, nó không bảo đảm thành công. Điều nó hứa khiêm tốn hơn nhưng chắc hơn: rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vẫn còn một cách đứng có phẩm giá, và trong cách đứng ấy, ý nghĩa vẫn có thể nảy sinh. Và nó là một cung chứ không phải một nốt duy nhất: người thiên về chiêm nghiệm sẽ nhấn vào tỉnh thức và buông. Người thiên về hành động sẽ nhấn vào tận lực và trách nhiệm. Cả hai đều đúng, miễn là không bỏ hẳn nốt kia.

Kết luận

Nếu buộc phải nói trong một câu: thái độ sống đúng đắn là sống như người biết mình sẽ chết nên không hoang phí, làm hết sức phần thuộc mình và buông thanh thản phần không thuộc mình nên không khổ vô ích, đặt phẩm hạnh trên kết quả nên không thể bị số phận tước đoạt, yêu hết lòng mà không nắm giữ nên tình yêu được tự do, thật với chính mình nên mọi điều khác không hóa thành giả, khiêm nhường trước điều chưa biết nên còn kinh ngạc, biết ơn vì được có mặt nên biết đủ, nhận phần trách nhiệm của mình nên có mặt trọn vẹn với đời, và đủ nhẹ để cười nên không vỡ. Đó không phải một công thức để làm theo mà là một cung để dò lại từng ngày. Cuộc đời sẽ không ngừng đặt câu hỏi thái độ sống đúng đắn, cuối cùng, là tư thế của người sẵn lòng trả lời bằng chính đời mình, mỗi ngày một lần nữa. Trần Nhân Tông đã nói điều đó gọn hơn bất kỳ ai, tám thế kỷ trước:

Ở giữa đời mà vui đạo,
Tùy duyên mà làm,
Đói thì ăn,
Mệt thì ngủ,
Và biết rằng báu vật ở ngay trong nhà mình.

Cùng câu hỏi này, đọc thêm câu trả lời của GPT-6 Astra.

Follow us @ Instagram